Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2016

Các yếu tố dễ khiến sinh non

Có nhiều yếu tố dễ dẫn đến chuyển dạ sinh non. Một vài yếu tố có thể điều trị được, một số yếu tố khác không thể thay đổi.
Có nhiều yếu tố dễ dẫn đến chuyển dạ sinh non. Một vài yếu tố có thể điều trị được, một số yếu tố khác không thể thay đổi. Xác định yếu tố dẫn đến chuyển dạ sinh non tự nhiên trước khi mang thai hoặc đang có thai sớm (trong 3 tháng đầu thai kỳ) có thể giúp bác sĩ điều trị và ngăn chặn các biến chứng của sinh non.
máy hút sữa medela giá bao nhiêu
sinh non
Tiền căn sinh non nhiều lần
Tiền căn sinh non là yếu tố mạnh nhất dẫn đến sinh non trong lần mang thai tới, thời điểm sinh non thường xảy ra trùng với thời điểm sinh non lần trước.
Một loạt nghiên cứu cho thấy rằng nếu sản phụ tiền căn có sinh non 1 lần thì tỉ lệ sinh non ở lần sau là 15 - 30%, nếu tiền căn sinh non 2 lần thì tỉ lệ sinh non lần sau là 60%. Nếu sau khi sinh non 1 lần, sản phụ đã sinh đủ tháng được 1 lần thì nguy cơ sinh non lần mang thai kế tiếp sẽ giảm nhiều.
Có 2 nghiên cứu cho thấy rằng khoảng 5 - 7% những trường hợp đã sinh non sẽ bị tái phát khi mang thai lần tiếp theo. Nghiên cứu này cũng cho thấy nếu sản phụ không có tiền căn sinh non thì nguy cơ bị sinh non ở lần mang thai này là khoảng 0,2 - 0,8%.
Một nghiên cứu đoàn hệ đánh giá hình thái sinh non của lần mang thai trước với nguy cơ tái phát tình trạng sinh non ở lần mang thai kế tiếp cho thấy rằng: nếu lần mang thai trước sản phụ bị sinh non tự nhiên thì ở lần mang thai này, tỉ lệ bị sinh non là 31,6%, nếu lần mang thai trước sản phụ sinh non do có chỉ định chấm dứt thai kỳ thì lần mang thai này tỉ lệ sinh non là 23%. Một sản phụ nếu lần mang thai trước bị chuyển dạ sinh non tự nhiên thì ở lần mang thai này, nguy cơ chuyển dạ sinh non tự nhiên tăng gấp 5 - 6 lần và nguy cơ sinh non do chỉ định chấm dứt thai kỳ cũng tăng nhẹ. Một sản phụ lần mang thai trước có chỉ định sinh non thì ở lần này, nguy cơ chỉ định sinh non tăng và nguy cơ chuyển dạ sinh non tự nhiên cũng tăng.
Một sản phụ song thai nếu lần mang thai trước đó bị sinh non thì lần mang thai này, tỉ lệ sinh non sẽ cao hơn so với những sản phụ song thai mà lần mang thai trước đó sinh đủ tháng (67,3% so với 20,9%).
máy hút sữa medela có tốt không
sinh nonĐa thai chiếm khoảng 17% những trường hợp sinh dưới 37 tuần
Tiền căn sảy thai
Một thống kê hệ thống cho thấy những nhóm tiền căn có phá thai thì tỉ lệ bị sinh non cao hơn nhóm tiền căn không có phá thai (8,7% so với 6,8%), nguy cơ sinh non cũng sẽ tăng theo số lần phá thai.
Sảy thai tự nhiên, đặc biệt ở những trường hợp tái phát nhiều lần hoặc sảy thai tự nhiên trong 3 tháng giữa thai kỳ cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ sinh non.
Hỗ trợ sinh sản
Thai kỳ từ các phương pháp hỗ trợ sinh sản cũng có nguy cơ cao sinh non, nguyên nhân là tỉ lệ đa thai ở những thai kỳ có áp dụng phương pháp hỗ trợ sinh sản cao hơn.
Đa thai
Đa thai chiếm khoảng 2 - 3% ca sinh nhưng chiếm khoảng 17% những trường hợp sinh dưới 37 tuần và chiếm khoảng 23% những trường hợp sinh dưới 32 tuần. Ngày nay, do tỉ lệ áp dụng các phương pháp  hỗ trợ sinh sản tăng, nên tỉ lệ đa thai cũng tăng, hậu quả là tỉ lệ chuyển dạ sinh non cũng tăng. Đa thai gây sinh non có thể là do tử cung căng quá mức, tăng thể tích trong buồng tử cung hoặc do cổ tử cung bị yếu. Ngoài ra, còn có các yếu tố đặc biệt khác có thể ảnh hưởng đến tình trạng chuyển dạ sinh non, ví dụ: trong những trường hợp song thai, nồng độ estrogen, progesterone và steroid tăng hơn so với những trường hợp đơn thai.
Xuất huyết âm đạo
Xuất huyết âm đạo ở 3 tháng đầu hoặc 3 tháng giữa thai kỳ làm tăng nguy cơ sinh non và vỡ ối non khi thai non tháng. Những sản phụ có tình trạng xuất huyết trong 3 tháng đầu thai kỳ có nguy cơ cao chuyển dạ sinh non hơn những trường hợp khác.
Nhiễm trùng
Những nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau (dịch tễ học, mô bệnh học, vi sinh…) đều cho thấy rằng có mối liên hệ giữa tình trạng viêm nhiễm với chuyển dạ sinh non.
Nhiễm khuẩn niệu không triệu chứng:
Chưa có bằng chứng rõ ràng tình trạng nhiễm khuẩn niệu có liên quan đến chuyển dạ sinh non. Một nghiên cứu của Cardiff Birth Survey bao gồm 25.000 ca sinh trong giai đoạn 1970 - 1979 cho thấy nhiễm khuẩn niệu không liên quan đáng kể đến tình trạng chuyển dạ sinh non chung và chuyển dạ sinh non tự. Trong một vài nghiên cứu cho thấy rằng điều trị nhiễm khuẩn niệu sẽ làm giảm tỉ lệ viêm thận - bể thận và sẽ làm giảm tỉ lệ chuyển dạ sinh non.
Nhiễm trùng khác:
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng có mối liên quan giữa chuyển dạ sinh non và nhiễm trùng như nhiễm Streptococcus nhóm B, Chlamydia trachomatis, viêm âm đạo do vi khuẩn, lậu cầu, giang mai và Trichomonas vaginalis.
Chế độ sinh hoạt
Sinh hoạt hàng ngày và làm việc:
Nếu người mẹ làm việc nhiều, có thể làm tăng nguy cơ sinh non; nguyên nhân có thể là do máu tới tử cung ít, cơ thể tăng cường tổng hợp các hoóc-môn (ví dụ: corticotropin - releasing hormone, catecholamine). Tuy nhiên, cho đến nay mối liên quan giữa các hoạt động của sản phụ với sinh non chưa rõ ràng.
Một nghiên cứu hồi cứu bao gồm 8.711 sản phụ đơn thai. Kết quả cho thấy nhóm sản phụ đi hoặc đứng làm việc > 5 giờ/ngày thì nguy cơ sinh non cao hơn nhóm sản phụ đi hoặc đứng làm việc < 2 giờ/ngày. Một nghiên cứu về mối liên quan của tình trạng căng thẳng trong nghề nghiệp và tình trạng sinh non do chuyển dạ sinh non tự nhiên, ối vỡ non hoặc phải khởi phát chuyển dạ do chỉ định y khoa. Tổng cộng, có 2.929 sản phụ đơn thai tuổi thai 22 - 24 tuần. Các yếu tố được ghi nhận: thời gian làm việc mỗi tuần, các yếu tố liên quan đến nghề nghiệp như: tư thế làm việc, làm việc với máy móc công nghiệp, làm việc quá sức, áp lực về tinh thần và tác động của môi trường làm việc. Kết quả:
- Yếu tố liên quan đến nghề nghiệp không ảnh hưởng đến tình trạng chuyển dạ sinh non tự nhiên hoặc chỉ định khởi phát chuyển dạ khi thai non tháng ở 2 nhóm con so và con rạ.
- Tình trạng tăng số giờ làm việc mỗi tuần sẽ làm tăng đáng kể tình trạng chuyển dạ sinh non ở người con so.
- Các yếu tố liên quan đến nghề nghiệp làm tăng tình trạng ối vỡ khi thai non tháng (các yếu tố này độc lập với nhau) ở những người con so, còn ở người con rạ thì không thấy.
Những nghiên cứu khác cho thấy tư thế làm việc (đứng lâu), thời gian làm việc trong tuần nhiều (> 36 giờ/tuần, > 45 giờ/tuần), nâng vật nặng, làm việc trong môi trường nhiều tiếng ồn… cũng là những yếu tố thuận lợi làm chuyển dạ sinh non.
Làm việc quá nhiều (> 40 giờ/tuần), làm việc trái giờ (làm ngoài giờ từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều), công việc bắt buộc phải đứng lâu (đứng liên tục > 3 - 4 giờ/ngày), nâng vật nặng là các yếu tố có thể gây sinh non, thai nhỏ hơn tuổi thai, sẩy thai và phần nào làm huyết áp tăng cao trong thai kỳ.
Một nghiên cứu khác cho thấy rằng:
- Trong 100 sản phụ làm việc > 40 giờ: nguy cơ sinh non là 1,2 (95% CI 0,3 - 2,2). Nguy cơ sảy thai là 2,0 (95% CI -2,4 đến 8,5). Không tăng nguy cơ thai nhỏ hơn tuổi thai.
- Trong 100 sản phụ làm việc ngoài giờ (làm ban đêm, chiều tối hoặc xoay vòng): nguy cơ sinh non là 0,3 (95% CI -0,4 đến 1,0). Nguy cơ sảy thai là 1,4 (95% CI -0,5 - 3,6), nguy cơ này tăng cao nếu làm việc thường xuyên vào ban đêm. Không tăng nguy cơ thai chậm tăng trưởng trong tử cung.
- Trong 100 sản phụ đứng lâu khi làm việc (≥ 4 giờ/ngày): nguy cơ sinh non là 0,9. Nguy cơ sảy thai là 1,9 (95% CI 0,1 - 3,8). Nguy cơ thai chậm tăng trưởng trong tử cung là 1,6.
- Trong 100 sản phụ phải nâng vật nặng khi làm việc: nguy cơ sinh non là 0,1 (khoảng tứ phân vị - interquartile range -0,7 - 2,0). Nguy cơ sảy thai là 0,2 (khoảng tứ phân vị -3,2 - 5,3). Nguy cơ thai chậm tăng trưởng trong tử cung là 0,8 (khoảng tứ phân vị 0,4 - 1,6).
Trong 100 sản phụ làm việc nặng quá sức: nguy cơ sinh non là 0,7 (khoảng tứ phân vị 0,3 - 1,1). Nguy cơ sảy thai là 1,4 (khoảng tứ phân vị -8,2 đến 2,4). Không tăng nguy cơ thai chậm tăng trưởng trong tử cung (khoảng tứ phân vị -0,4 - 0,0).
Quan hệ tình dục:
Quan hệ tình dục không là yếu tố nguy cơ gây sinh non. Tuy nhiên, ở những sản phụ có yếu tố thuận lợi gây chuyển dạ sinh non như tiền căn đã sinh non, cổ tử cung ngắn, đa thai, đa ối, nhau tiền đạo thì không nên quan hệ tình dục.
Chế độ ăn:
Chế độ ăn không ảnh hưởng đến chuyển dạ sinh non. Một vài nghiên cứu (không phải là tất cả) cho thấy rằng nếu sản phụ ít dùng đồ biển hoặc axít béo omega-3 (n-3) thì nguy cơ chuyển dạ sinh non cao hơn. Một nghiên cứu hồi cứu về dịch tễ học trên 8.729 phụ nữ Đan Mạch không dùng dầu cá thì tỉ lệ chuyển dạ sinh non cao hơn nhóm có dùng dầu cá (7,1% so với 3 - 4%).
Cân nặng của sản phụ:
Sản phụ có cân nặng trước khi mang thai quá mức hoặc BMI cao cũng làm tăng nguy cơ chuyển dạ sinh non. Những sản phụ béo phì sẽ tăng nguy cơ chuyển dạ sinh non do có các biến chứng nội khoa. Béo phì trước khi mang thai sẽ làm tăng nguy cơ ối vỡ non khi thai non tháng.
Béo phì liên quan đến những bệnh lý nội khoa như: cao huyết áp trong thai kì, tiền sản giật, đái tháo đường trong thai kỳ. Một tổng quan hệ thống thực hiện vào năm 2010 cho thấy rằng những trường hợp béo phì trong thai kỳ làm tăng nguy cơ chỉ định khởi phát chuyển dạ khi thai non tháng hơn so với những trường hợp có BMI bình thường và nguy cơ này tăng tương ứng với tình trạng tăng cân của người mẹ. Tuy nhiên, tỉ lệ chuyển dạ sinh non tự nhiên không khác nhau giữa các nhóm. Một tổng quan hệ thống thực hiện vào năm 2009, sau khi loại trừ các yếu tố nhiễu như: chủng tộc, tuổi, số con và tình trạng hút thuốc cho thấy không có mối liên hệ giữa trọng lượng sản phụ trước khi mang thai với tình trạng chuyển dạ sinh non tự nhiên (thai < 37 tuần), 3 nghiên cứu đoàn hệ bao gồm 18.063 phụ nữ). Tuy nhiên, một nghiên cứu đoàn hệ trong cộng đồng (thực hiện năm 2013) bao gồm 1,5 triệu sản phụ đơn thai cho thấy thừa cân và béo phì làm tăng nguy cơ khởi phát chuyển dạ do chỉ định y khoa ở mọi tuổi thai và làm tăng nguy cơ chuyển dạ sinh non khi tuổi thai 22 - 27 tuần.
Hút thuốc:
Hút thuốc có liên quan đến nguy cơ sinh non. Trong một nghiên cứu tiền cứu cho thấy rằng nếu người mẹ hút 1 - 9 điếu thuốc/ngày sẽ làm tăng nguy cơ chuyển dạ sinh non ở thai 33 - 36 tuần, nguy cơ chuyển dạ sinh non cũng tăng khi thai nhỏ hơn 32 tuần. Nếu người mẹ hút > 10 điếu thuốc/ngày, nguy cơ sinh non sẽ tăng với OR = 1,4 (95% CI 1,3-1,4) khi thai 33 - 36 tuần và OR = 1,6 (95% CI 1,4-1,8) khi thai nhỏ hơn 32 tuần. Sự tác động này có thể giải thích là do khi sản phụ hút thuốc sẽ làm tăng tỉ lệ nhau bong non, nhau tiền đạo, vỡ màng ối non và thai chậm tăng trưởng trong tử cung. Với những trường hợp này, đôi khi cần phải chấm dứt thai kỳ khi thai non tháng.
Stress:
Khi người mẹ bị áp lực tâm lý sẽ làm tăng nguy cơ sinh non, các nghiên cứu cho thấy rằng nguy cơ tăng gấp 1,5 - 2 lần ở những sản phụ bị áp lực tâm lý.
Yếu tố cổ tử cung và tử cung
Cổ tử cung ngắn:
Có mối liên quan giữa chiều dài cổ tử cung đo bằng siêu âm và tuổi thai khi sinh. Khi chiều dài cổ tử cung ≤ 35mm, ≤ 30mm, ≤ 26mm, ≤ 20mm và ≤ 13mm thì nguy cơ sinh non lần lượt là 2,35%, 3,79%, 6,19%, 9,49% và 13,99%. Chiều dài cổ tử cung đo ở tuần 16 - 28 ngắn là yếu tố nguy cơ chuyển dạ sinh non.
Phẫu thuật trên cổ tử cung:
Khoét chóp cổ tử cung trong những bệnh lý ở cổ tử cung có liên quan rất nhiều đến nguy cơ sảy thai muộn hoặc sinh non. Khi khoét chóp thì một lượng lớn sợi collagen ở cổ tử cung bị mất, làm giảm khả năng chịu đựng của cổ tử cung, dẫn đến chuyển dạ sinh non và sinh non. Mặt khác, khoét chóp sẽ làm mất các tuyến ở cổ tử cung;  khi có thai, cổ tử cung sẽ không hình thành được nút nhầy, hậu quả là tăng nguy cơ nhiễm trùng màng ối và tăng nguy cơ ối vỡ non và chuyển dạ sinh non. Ngoài ra, những vết sẹo trên cổ tử cung làm cổ tử cung không mềm mại, làm tăng tỉ lệ ối vỡ non.
Tử cung:
Tử cung dị dạng bẩm sinh hay mắc phải có liên quan đến sinh non và nguy cơ này phụ thuộc vào tình trạng bất thường của tử cung. Ở những trường hợp tử cung 1 sừng, tỉ lệ sinh non là 17%. Sản phụ có tử cung đôi có nguy cơ chuyển dạ sinh non cao hơn so với sản phụ có tử cung bình thường (29% so với 3%). Những nghiên cứu về mối liên quan giữa kích thước nhân xơ và tình trạng sinh non cho thấy rằng những khối nhân xơ có kích thước ≥ 5 - 6cm sẽ làm tăng nguy cơ chuyển dạ sinh non, nguyên nhân có thể là nhân xơ này làm giảm thể tích buồng tử cung. Một số nguyên nhân từ tử cung gây chuyển dạ sinh non có thể điều trị bằng phẫu thuật như: vách ngăn tử cung, tử cung 2 sừng, dính buồng tử cung, nhân xơ tử cung.
sinh nonBệnh lý mạn tính của người mẹ có liên quan đến tình trạng sinh non
Bệnh lý của mẹ
Bệnh lý mạn tính của người mẹ:
Bệnh lý mạn tính của người mẹ có liên quan đến tình trạng sinh non do yếu tố của người mẹ hoặc con, ví dụ: cao huyết áp trong thai kỳ, bệnh lý thận, đái tháo đường týp 1.
Bệnh tự miễn:
Có những bằng chứng cho thấy một vài bệnh lý tự miễn sẽ làm tăng nguy cơ chuyển dạ sinh non (ví dụ: bệnh lý tuyến giáp tự miễn, bệnh nhiễm khuẩn đường ruột). Tuy nhiên, mối liên quan giữa các bệnh tự miễn và sinh non cần được nghiên cứu thêm.
Thiếu máu:
Một nghiên cứu đoàn hệ bao gồm 173.031 sản phụ cho thấy rằng những sản phụ thiếu máu nặng (Hb < 9,5 g/dL) ở tuần thứ 12 của thai kỳ sẽ tăng nguy cơ chuyển dạ sinh non (OR = 1,68, 95% CI 1,29 - 2,21). Một phân tích gộp cũng cho kết quả tương tự là có sự tăng nhẹ tỉ lệ sinh non ở những trường hợp thiếu máu nhẹ (OR = 1,32, 95% CI 1,01-1,74), ở những trường hợp này thường là thiếu máu ở giai đoạn sớm của thai kỳ. Thiếu máu ở 3 tháng cuối thai kỳ thường không liên quan đến sinh non.
Do thai
Thai chậm tăng trưởng trong tử cung.
Thai chậm tăng trưởng trong tử cung cũng có liên quan đến sinh non tự nhiên hoặc chỉ định chấm dứt thai kỳ khi thai non tháng.
Thai dị dạng:
Thai dị dạng là một trong những nguyên nhân gây sinh non. Nguyên nhân có thể là hậu quả của dị dạng thai làm tăng nguy cơ chuyển dạ sinh non (đa ối do hẹp thực quản) hoặc do dị dạng có chỉ định chấm dứt thai kỳ sớm.
Giới tính của thai nhi:
Giới tính nam cũng là yếu tố thuận lợi của sinh non tự nhiên. Hai nghiên cứu về mô học của bánh nhau cho thấy rằng bánh nhau của bé trai có tỉ lệ viêm mạn tính nhiều hơn bánh nhau của bé gái. Tác giả cho rằng có thể hệ thống miễn dịch của người mẹ đáp ứng với mô của bé trai nhiều hơn bé gái.

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2016

Học cách thoát khỏi viêm đại tràng của người Nhật

Người bệnh viêm đại tràng rất sợ bệnh tái phát, ăn uống kiêng khem khổ sở, người bệnh rất ngán ngẫm với các triệu chứng rối loạn tiêu hóa, đau bụng mỗi khi ăn thức ăn lạ, thức ăn tươi sống
benh duong ruot
Vì sao viêm đại tràng là bệnh rất dễ tái phát? Chìa khóa nằm ở lợi khuẩn Bifido, đây là lợi khuẩn giúp đại tràng khỏe mạnh và hoạt động tốt. Lợi khuẩn là loại lợi khuẩn chính yếu của đường ruột chiếm 99,9% lợi khuẩn đường ruột và cư trú chủ yếu ở đại tràng, lợi khuẩn Bifido sống bám trên các lông nhung và tiết dịch nhầy bao phủ lên bề mặt lông nhung, tạo thành lớp lá chắn kép bảo vệ cho thành đại tràng.Lợi khuẩn Bifido đóng vai trò quan trọng giúp tiêu hóa thức ăn và giúp phân thành khuôn. Lợi khuẩn Bifido sẽ cư trú ở trên các lông nhung làm nhiệm vụ tiết enzym tiêu hóa phần thức ăn khó chưa được tiêu hóa hết ở ruột non đổ xuống và phân hủy, đào thải các chất cặn bã tạo thành khuôn phân mềm, mượt dễ đẩy ra ngoài.
Lợi khuẩn Bifido còn giúp tăng cường miễn dịch, lớp lông nhung trên thành ruột non và đại tràng còn giúp thấm hút các chất độc từ thức ăn nếu có để lợi khuẩn xử lý, ngăn các chất độc đi vào máu để giảm tải gánh nặng cho gan thận.
Một trong những nguyên nhân khiến viêm đại tràng dễ tái phát đó là việc lạm dụng kháng sinh vô tình là chết đi một lượng lớn lợi khuẩn Bifido, khiến số lượng lợi khuẩn giảm nghiêm trọng sau các đợt điều trị viêm loét bằng kháng sinh dẫn đến lá chắn kép bảo vệ đại tràng là lông nhung và dịch nhầy mất đi, vết loét khi mới được chữa lành chưa kịp lành, trơ trụi không có lá chắn kép bảo vệ nên bị tấn công gây loét trở lại.
benh duong ruot co chua duoc khong
Không đủ lợi khuẩn Bifido ở đại tràng khiến cho việc tiêu hóa những thức ăn khó tiêu chưa được tiêu hóa hết ở ruột non bị quá tải, nên ăn nhiều đạm thì dẫn đến tình trạng táo bón, nếu ăn nhiều thức ăn nhiều dầu mỡ thì bị đi ngoài phân lỏng, sống phân, chua, có mùi tanh.
Đường ruột không còn nhiều lợi khuẩn Bifido, lúc này vi khuẩn gây hại tăng lên và tiết ra nhiều khí làm cho người bệnh luôn có cảm giác đầy bụng, trướng hơi, óc ách, khó tiêu. Nhưng người bệnh lại không chú trọng việc tăng cường bổ sung lợi khuẩn Bifido, hoặc có dùng một số loại men vi sinh nhưng không có thành phần Bifido, hoặc có thì lại bị tiêu diệt gần như hoàn toàn khi đi qua axit dạ dày, vì lợi khuẩn Bifido rất nhạy cảm với môi trường axit dạ dày.
benh duong ruot o tre em
Nhưng với men vi sinh Bifina của Nhật Bản thì hoàn toàn khác biệt: Với công thức vượt trội 3 trong 1, trong mỗi gói Bifina có 2,5 tỷ lợi khuẩn Bifido, 1 tỷ lợi khuẩn Lactobacillus và chất xơ hòa tan là thức ăn ưa thích của lợi khuẩn. Trong khi các loại men vi sinh thông thường hầu như không có thành phần lợi khuẩn Bifido.

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

Nguyên tắc ăn uống các mẹ cần nhớ khi cho con bú

Trong thời gian cho con bú, để đủ sữa cho con bú các mẹ nên ăn thức ăn nóng, bổ sung nhiều vitamin và đừng quên uống nhiều nước
máy hút sữa medela mua ở đâu
Tránh thực phẩm đã qua chế biến. Thực phẩm tốt nhất cho mẹ đang cho con bú là những loại thực phẩm chưa qua chế biến và thêm phụ gia bởi bước chế biến này sẽ làm mất đi lượng vitamin, các khoáng chất và chất chống oxy hóa quý giá. Vì vậy, các loại rau quả xanh, trái cây tươi, ngũ cốc nguyên hạt, đậu nành và sữa ít béo đều là những lựa chọn thông minh cho mẹ.
Bổ sung nhiều nước cho cơ thể. Mẹ nuôi con nhỏ thường không được ngủ đủ giấc, việc này có thể khiến cơ thể bị mất nước cũng giống như khi uống ít nước vậy. Nếu bạn ngại uống nước trắng, thì hãy thử thay thế bằng nước dừa hay ăn dứa hấu. Ngoài ra, bạn cũng nên bổ sung thêm cam, dâu, dưa chuột hay cần tây bởi các loại rau quả này đều có thể dễ dàng bổ sung nước cho cơ thể.
Bên cạnh đó, mẹ cũng nên chú ý bổ sung thêm các thực phẩm giàu kali như mơ sấy khô, chuối, rau lá xanh, khoai tây hay đậu lima bởi chũng có khă năng điều chỉnh khả năng giữ nước của cơ thể.
Ăn nhiều bữa. Các chuyên gia dinh dưỡng bà mẹ và trẻ em đều khuyên phụ nữ đang cho con bú nên ăn thành nhiều bữa, cụ thể là nên ăn nhẹ cách khoảng 2-3 tiếng một lần để liên tục duy trì năng lượng cho cơ thể.
Ăn nóng. Có thể bạn chưa biết nhưng khi mang thai, sự phát triển của thai nhi khiến cơ thể mẹ thường xuyên bị nhiệt và cảm thấy nóng hơn. Do vậy, sau khi sinh con, mẹ nên chọn các món hầm, món súp hay mì ống để cân bằng lại cơ thể.
đia chỉ bán máy hút sữa medela
Làm đầy tủ đá với đồ ăn. Nếu công việc của bạn khá bận rộn và khó có thời gian để chuẩn bị các món ăn mỗi ngày thì cũng có thể chuẩn bị trước thịt hầm, súp hay nấu đông và đóng băng trên ngăn đá của tủ lạnh để dùng sau. Như vậy bạn hoàn toàn có thể thưởng thức những món ăn cần nấu cầu kỳ và tốn nhiều thời gian này chỉ sau ít phút làm nóng lại trong lò vi sóng.
Tiếp tục bổ sung vitamin. Rất nhiều loại vitamin có thể được cơ thể hấp thụ một cách dễ dàng hơn qua các thực phẩm bạn ăn hàng ngày so với việc dùng viên uống bổ sung. Nhiều mẹ cho rằng chỉ khi mang thai mới cần bổ sung nhiều vitamin hơn, tuy nhiên thực tế thì cơ thể mẹ sau sinh, đặc biệt là mẹ đang cho con bú cũng cần được chú ý cung cấp vitamin như trong thai kỳ.
Ngoài ra, một ly sinh tố có lẽ cũng là cách tương đối hoàn hảo và khá đơn giản để cung cấp cho cơ thể nhiều vitamin cũng như chất dinh dưỡng. Yến mạch, rau xanh và hạt chia có thể xay kết hợp với trái cây hay sữa chua là một lựa chọn tuyệt vời cho mẹ.
Rong và tảo biển. Rong biển chứa hàm lượng cao sắt – một khoáng chất vô cùng quan trọng cho cơ thể mẹ. Một gợi ý cho mẹ ngại vị tanh của rong biển là món sushi. Ngoài ra, mẹ cũng có thể sử dụng tảo biển bởi chúng cũng là một nguồn cung cấp sắt khá dồi dào.
máy hút sữa medela giá bao nhiêu
Bổ sung chất xơ. Đừng nghĩ rằng sau khi sinh con thì tình trạng nhiệt ‘đau khổ’ trong thai kỳ sẽ kết thúc bởi việc cho con bú cũng khiến cơ thể mẹ rất dễ dàng bị nhiệt. Để hạn chế tình trạng này, mẹ nên bổ sung nhiều chất xơ bằng cách sử dụng một số loại thực phẩm rất dễ tìm như yến mạch, quả sung, quả táo (cả vỏ), lê, gạo lứt, đậu đen, hay củ cải xanh.

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

9 lợi ích tuyệt vời của tập thiền đối với sức khỏe con người

Tập thiền mang lại cho bạn những lợi ích tuyệt vời như cải thiện hệ miễn dịch, tăng cường sức khỏe tim mạch, cải thiện tâm trạng.
Thiền ít nhất 30 phút mỗi ngày sẽ mang đến cho bạn những lợi ích sau:
cay thuoc nam tri ung thu
Giảm stress
Stress kéo dài làm tăng huyết áp và dẫn tới co thắt mạch máu, trầm cảm và thậm chí là nghiện. Khi tâm trí trở nên thanh tịnh khi thiền, bạn sẽ tập trung vào hơi thở và thư giãn, dẫn tới giảm cảm giác căng thẳng. Thở sâu, có kiểm soát cho phép cơ thể tạo ra hàm lượng oxit nitric cao hơn. Chất này giúp lưu thông mạch máu bị tắc nghẽn và giảm huyết áp.
Giảm căng cơ
Khi bạn tập trung vào nhiều khu vực trên cơ thể qua hơi thở có kiểm soát, tâm trí bạn sẽ giúp cơ thư giãn. Kỹ thuật này được goi là kỹ thuật thư giãn cơ tiên tiến có thể được sử dụng khi bắt đầu buổi thiền để làm căng và thư giãn cơ qua cơ thể với chánh niệm và có chủ đích.
Cải thiện sức khỏe tim
Những người thiền cả ngày sẽ giảm độ dày thành động mạch, những người không thiền sẽ không có hiện tượng này. Giảm độ dày thành động mạch có nghĩa là giảm nguy cơ đột quỵ và đau tim.
Ban nam lim xanh tai HCM
9 loi ich tuyet voi cua tap thien doi voi suc khoe

Cải thiện tâm trạng
Thiền làm giảm mật độ chất xám ở một số khu vực trong não có liên quan tới stress và lo âu. Những người thực hành một kiểu thiền đặc biệt ít có nguy cơ trải qua những kích thích tiêu cực. Thiền sẽ giúp giảm mức độ lo lắng và cải thiện 3 lòng thương – lòng thương đối với người khác, nhận lòng thương từ người khác và biết thương chính bản thân mình.
Tăng cường miễn dịch
Những người tập yoga và thiền sẽ cải thiện tăng cường khả năng phục hồi và sử dụng năng lượng ty thể. Quá trình này dẫn tới tăng cường hệ miễn dịch cũng như đối phó với stress.
Tăng cường khả năng sáng tạo
Thiền hướng mở rộng có tác dụng tích cực với khả năng sáng tạo và tư duy phân tách. Kiểu thiền đặc biệt này bao gồm theo dõi nhưng không phản ứng, nội dung trải nghiệm qua từng thời điểm. Những người thực hành kiểu thiền này dường như thực hiện tốt hơn những nhiệm vụ trong đó họ được yêu cầu đưa ra những ý tưởng mới theo cách sáng tạo.
cach chon nam lim xanh
Cải thiện quan hệ tích cực và sự thấu hiểu
Thiền từ bi giúp người thực hành tập trung vào phát triển tình yêu thương và sự quan tâm tới chúng sinh. Một nghiên cứu chỉ ra rằng thực hành kiểu thiền này cho phép người tập hiểu người khác hơn thông qua đọc các biểu hiện nét mặt của họ. Việc xây dựng những cảm xúc tích cực thông qua lòng từ bi sẽ giúp tăng cường nguồn lực cá nhân, như thái độ yêu thương chính bản thân, yêu thương người khác, hỗ trợ xã hội và tự chấp nhận.
Giảm cô lập xã hội
Thiền từ bi sẽ làm tăng sự gắn kết với xã hội cũng như thái độ tích cực của người tập. Loại thiền này dễ thực hiện và có thể giảm sự cô lập xã hội và tăng những cảm xúc xã hội tích cực.
Giảm nguy cơ đột quỵ và bệnh tim
Thiền có khả năng làm giảm đáng kể nguy cơ tử vong, đột quỵ và nhồi máu cơ tim ở những người bị bệnh tim. Điều này là vì thiền làm giảm huyết áp và thay đổi các yếu tố stress tâm lý khác. Cùng với đó, nó làm giảm nguy cơ trầm cảm, chết sớm và thậm chí là Alzheimer.